炼钢装备设计特点及新技术应用 Đặc điểm thiết kế và ứng dụng kỹ thuật mới của thiết bị luyện kim


Một tài liệu anh đồng nghiệp gửi cho xem thử từ năm 2016 khi dự án Cà Ná còn triển khai.

1炼钢主要工艺特点及技术装备水平
Đặc điểm công nghệ luyện kim chủ yếu và trình độ trang bị kỹ thuật
1.1铁水脱硫
Khử lưu huỳnh cho sắt nóng chảy
镁基复合喷吹铁水脱硫主要设计特点及新技术应用如下:

1)采用全量铁水脱硫工艺,可向转炉提供低硫铁水,减轻转炉冶炼负荷,并可根据脱硫模型准确的确定脱硫的操作参数;
Sử dụng công nghệ toàn lượng khử lưu huỳnh cho sắt nóng chảy, có thể cung cấp cho lò chuyển sắt nóng chảy có hàm lượng lưu huỳnh thấp nhất, giảm thiểu, đồng thời có thể căn cứ độ chuẩn xác của mô hình khử lưu huỳnh để xác định các tham số vận hành khử lưu huỳnh.
2)采用镁基脱硫技术,脱硫效率高,脱硫稳定性好,可实现深脱硫;
Sử dụng kỹ thuật khử lưu huỳnh bằng Magie, hiệu suất cao, tính ổn định tốt, có thể thực hiện khử kỹ lưu huỳnh.
3)铁水脱硫喷吹/扒渣工位均设置除尘设施,改善劳动环境;
4)采用过程计算机控制和脱硫模型控制,有利于提高操作和管理水平。
Sử dụng
1.2转炉系统
Hệ thống lò chuyển
转炉系统主要设计特点及新技术应用如下:
Đặc điểm thiết kế chủ yếu của lò chuyển và ứng dụng công nghệ mới như sau:
1) 采用顶底复合吹炼转炉,搅拌气体为氮气、氩气等惰性气体,可根据需要由PLC自动进行气体的切换;

2) 转炉倾动装置采用四点全悬挂和扭力杆平衡支撑结构。该装置设备布置紧凑,传动平稳,运行安全可靠;
3) 炉体和托圈的联接采用四组关节轴承-连杆-十字铰构成的吊挂系统,该设备具有吸收变形量大,设备重量轻,转炉重心低,正力矩特性好,结构简单,维护更方便等优点。
4) 炉口、托圈、耳轴采用循环水冷却,防止热变形,提高了设备的使用寿命;炉壳上取消了大量复杂的上部结构,有利于冷却水管的布置;取消了炉底的配重,有利于炉壳的更换和安装。
5) 镁碳砖为主综合砌筑炉衬和溅渣护炉,提高炉衬寿命,降低耐材消耗;
6) 氧枪采用双小车、双卷扬氧枪,可实现氧枪快速更换;
7) 氧枪升降小车配备新型防坠枪机构,防坠可靠性高;
8) 汽化冷却系统采用复合冷却的方式,即强制循环和自然循环相结合,回收蒸汽。
9) 活动烟罩、下料孔、氧枪孔、人孔等采用软水低压强制循环,便于烟道易损部件更换,以提高汽化冷却烟道的整体使用寿命;
10) 采用LT干法系统净化和冷却转炉高温烟气,回收转炉煤气,节约能源;
11) 转炉、吹氩喂丝站、拆包区、加料系统、地下料仓、精炼等环节均设置了二次除尘捕集罩烟尘,加料跨转炉兑铁位设置三次除尘,为建设清洁化工厂创造条件;
12) 散状料系统采用皮带机上料和自动加料,PLC自动控制,提高了劳动生产率;
13) 铁合金系统采用皮带机自动上料和自动加料系统,PLC自动控制,提高了劳动生产率。
14) 二级计算机控制系统,既实现基础自动化和生产过程自动化,并留有与三级计算机管理功能接口。
Hệ thống máy tính khống chế 2 cấp, thực hiện tự động hóa cơ sở và tự động hóa quá trình sản xuất,
1.3精炼系统
Hệ thống tinh luyện
LF精炼炉主要设计特点及新技术应用如下:
Đặc điểm thiết kế chủ yếu của lò tinh luyện và ứng dụng của công nghệ mới như sau:
 1) 采用双工位电极横臂旋转、双钢包车的布置型式,可缩短精炼辅助时间,便于和连铸机的生产节奏相匹配。

2) 泡沫渣埋弧加热,热效率高,钢水罐寿命高。
3) 炉盖采用管式水冷结构,提高了使用寿命。
4) 在整个处理过程中全程底吹氩,通过底吹氩搅拌和喂丝等清洁炼钢技术,提高钢液的纯净度和质量。

5) 采用惰性气体炉盖,保证炉内的还原性气氛,同时达到更好的除尘效果。

6) 采用水冷钢铜复合导电横臂,减少了电极臂重量,相应减小了液压系统,另外,由于导电横臂的截面积大、电阻小,提高了导电率,可降低电耗。
7) 铁合金系统采用皮带机自动上料和自动加料,PLC自动控制,提高了劳动生产率,改善了工人劳动条件。
Hệ thống sắt hợp kim sử dụng  
8) 采用PLC控制,并能监视设备状态。
Sử dụng kiểm soát PLC, đồng thời có thể giám sát trạng thái thiết bị



Mấy bài đọc phục vụ ôn thi eilts

















A Chronicle of Timekeeping 

Biên niên sử thời gian


A
According to archaeological evidence, at least 5,000 years ago, and long before the advent /´ædvent/ of the Roman Empire, the Babylonians began to measure time, introducing calendars to co-ordinate communal activities, to plan the shipment of goods and, in particular, to regulate planting and harvesting. They based their calendars on three natural cycles: the solar day, marked by the successive periods of light and darkness as the earth rotates on its axis /´æksis/; the lunar month, following the phases of the moon as it orbits the earth; and the solar year, defined by the changing seasons that accompany our planet's revolution around the sun.
Theo các bằng chứng khảo cổ, cách đây ít nhất 5000 năm, trước sự xâm lăng của đế quốc Roma rất lâu, người Babylon đã đo lường thời gian, dùng lịch để cùng thực hiện các hoạt động cộng đồng, để lập kế hoạch vận tải hàng hóa, và đặc biệt để điều phối việc gieo trồng và thu hoạch. Họ căn cứ lịch của mình theo 3 chu kỳ tự nhiên: Ngày theo mặt trời, đánh dấu bằng chuỗi ngày và đêm vì trái đất quay quanh trục của nó; tháng theo mặt trăng, theo các giai đoạn của mặt trăng vì nó quay quanh trái đất; và năm theo mặt trời, được xác định bằng sự thay đổi các mùa tùy theo sự biến hóa của hành tinh chúng ta xung quanh mặt trời.
B
Before the invention of artificial light, the moon had greater social impact. And, for those living near the equator /i´kweitə/ in particular, its waxing and waning /wɔn/ was more conspicuous than the passing of the seasons. Hence, the calendars that were developed at the lower latitudes /´lætitju:d/ were influenced more by the lunar cycle than by the solar year. In more northern climes, however, where seasonal agriculture was practised, the solar year became more crucial. As the Roman Empire expanded northward, it organised its activity chart for the most part around the solar year.
Trước khi phát minh ra ánh sáng nhân tạo, mặt trăng đã có ảnh hưởng xã hội lớn hơn. Và đặc biệt với những người sống gần xích đạo, sự tròn khuyết của nó dễ nhận biết hơn sự trôi qua của các mùa. Do vậy, những bộ lịch được phát triển tại khu vực có vĩ độ thấp bị ảnh hưởng nhiều bởi chu kỳ mặt trăng hơn là năm mặt trời. Tuy nhiên ở những vùng gần về phía bắc hơn, tại đó thực hiện nông nghiệp theo mùa, năm theo mặt trời trở nên quan trọng hơn. Khi đế chế Roma mở rộng về phía bắc, họ đã tổ chức phần lớn các hoạt động theo năm mặt trời.
C
Centuries before the Roman Empire, the Egyptians had formulated a municipal /mju:'nisipəl/ calendar having 12 months of 30 days, with five days added to approximate the solar year. Each period of ten days was marked by the appearance of special groups of stars called decans. At the rise of the star Sirius just before sunrise, which occurred around the all-important annual flooding of the Nile, 12 decans could be seen spanning the heavens. The cosmic ´kɔzmik/ significance the Egyptians placed in the 12 decans led them to develop a system in which each interval of darkness (and later, each interval of daylight) was divided into a dozen equal parts. These periods became known as temporal /'tempərəl/ hours because their duration varied according to the changing length of days and nights with the passing of the seasons. Summer hours were long, winter ones short; only at the spring and autumn equinoxes were the hours of daylight and darkness equal. Temporal hours, which were first adopted by the Greeks and then the Romans, who disseminated them through Europe, remained in use for more than 2,500 years.
Hàng thế kỷ trước đế chế Roma, người Ai Cập đã lập công thức tính một bộ lịch đô thị có 12 tháng 30 ngày, thêm 5 ngày thêm vào xấp xỉ năm dương lịch. Mỗi 10 ngày được đánh dấu bằng sự xuất hiện của một nhóm sao đặc biệt gọi là decans. Khi sao thiên lang mọc ngay trước khi mặt trời mọc, xảy ra quanh dịp lụt hằng năm của sông Nile, có thể thấy được 12 decans trải dàn trên trời. Ý nghĩa vũ trụ mà người Ai Cập đặt vào 12 decans đã dẫn dắt họ phát triển một hệ thống trong đó khoảng thời gian ban đêm (sau đó là khoảng thời gian ban ngày) được chia thành 12 phần bằng nhau. Những khoảng ấy được biết đến là giờ thời gian vì độ dài của chúng thay đổi tùy theo sự thay đổi độ dài ngày đêm theo mùa. Giờ mùa hè dài, giờ mùa đông ngắn; chỉ khi xuân phân và thu phân thì giờ ban ngày và ban đêm mới bằng nhau. Giờ thời gian được sử dụng trong hơn 2500 năm rồi bị người Hy Lạp, rồi người Roma bãi bỏ, những người đã phân tỏa đi khắp châu Âu.
D
In order to track temporal hours during the day, inventors created sundials, which indicate time by the length or direction of the sun's shadow. The sundial's counterpart, the water clock, was designed to measure temporal hours at night. One of the first water clocks was a basin with a small hole near the bottom through which the water dripped out. The falling water level denoted the passing hour as it dipped below hour lines inscribed /in´skraib/ on the inner surface. Although these devices performed satisfactorily around the Mediterranean /¸meditə´reiniən/, they could not always be depended on in the cloudy and often freezing weather of northern Europe.
Để nắm bắt giờ thời gian trong ngày, các nhà phát minh đã tạo ra đồng hồ mặt trời, chỉ thời gian bằng độ dài hay hướng bóng mặt trời. Một trong những đồng hồ nước đầu tiên là một cái bồn với một cái lỗ nhỏ gần đáy mà nước nhỏ giọt ra ngoài qua đó. Mức nước chảy cho biết giờ đã qua khi nó nhỏ giọt dưới các vạch chỉ giờ được khắc trên mặt trong. Dù những thiết bị này hoạt động đáp ứng được nhu cầu ở khu địa trung hải nhưng không thể dựa vào được dưới thời tiết nhiều mây và hay đóng băng ở châu Âu.
E
The advent of the mechanical clock meant that although it could be adjusted to maintain temporal hours, it was naturally suited to keeping equal ones. With these, however, arose the question of when to begin counting, and so, in the early 14th century, a number of systems evolved. The schemes that divided the day into 24 equal parts varied according to the start of the count: Italian hours began at sunset, Babylonian hours at sunrise, astronomical hours at midday and 'great clock' hours, used for some large public clocks in Germany, at midnight. Eventually these were superseded by 'small clock', or French, hours, which split the day into two 12-hour periods commencing at midnight.
F
The earliest recorded weight-driven mechanical clock was built in 1283 in Bedfordshire in England. The revolutionary aspect of this new timekeeper was neither the descending weight that provided its motive force nor the gear wheels (which had been around for at least 1,300 years) that transferred the power; It was the part called the escapement. In the early 1400s came the invention of the coiled spring or fusee which maintained constant force to the gear wheels of the timekeeper despite the changing tension of its mainspring. By the 16th century, a pendulum clock had been devised, but the pendulum swung in a large arc and thus was not very efficient.
G
To address this, a variation on the original escapement was invented in 1670, in England. It was called the anchor escapement, which was a lever-based device shaped like a ship's anchor. The motion of a pendulum rocks this device so that it catches and then releases each tooth of the escape wheel, in turn allowing it to turn a precise amount. Unlike the original form used in early pendulum clocks, the anchor escapement permitted the pendulum to travel in a very small arc. Moreover, this invention allowed the use of a long pendulum which could beat once a second and thus led to the development of a new floorstanding case design, which became known as the grandfather clock.
H
Today, highly accurate timekeeping instruments set the beat for most electronic devices. Nearly all computers contain a quartz-crystal clock to regulate their operation. Moreover, not only do time signals beamed down from Global Positioning System satellites calibrate the functions of precision navigation equipment, they do so as well for mobile phones, instant stock-trading systems and nationwide power-distribution grids. So integral /'intigrəl/ have these time-based technologies become to day-to-day existence that our dependency on them is recognised only when they fail to work.
Ngày nay, các dụng cụ đo đạc thời gian chính sác cao đặt nhịp độ cho hầu hết các thiết bị điện tử. Gần như tất cả các máy tính đều chứa một đồng hồ tinh thể thạch anh để điều chỉnh hoạt động của chúng. Hơn nữa, các tín hiệu thời gian được phát xuống từ Hệ thống định vị toàn cầu GPS không chỉ hiệu chỉnh chức năng của các thiết bị định vị chính xác mà còn cho các điện thoại di động, các hệ thống giao dịch chứng khoán tức thời và mạng lưới phân phối điện toàn quốc. Toàn bộ những công nghệ dựa trên thời gian như vậy hiện hữu ngày này qua ngày khác đến độ sự phụ thuộc của chúng ta vào chúng chỉ được nhận ra khi chúng ngừng hoạt động. (chú ý câu đảo ngữ)


Our conception of time depends on the way we measure it.
Nhận thức về thời gian phụ thuộc vào cách chúng ta đo lường nó.

According to archaeological evidence, at least 5,000 years ago, and long before the advent of the Roman Empire, the Babylonians began to measure time, introducing calendars to co-ordinate communal activities, to plan the shipment of goods and, in particular, to regulate planting and harvesting.
Theo bằng chứng khảo cổ học, ít nhất 5,000 năm trước đây, và rất lâu trước sự ra đời của Đế chế La Mã, người Babylon đã bắt đầu đo thời gian, đưa ra lịch nhằm phối hợp các hoạt động trong cộng đồng, lập kế hoạch vận chuyển hàng hóa và đặc biệt, để điều tiết trồng trọt và thu hoạch.

They based their calendars on three natural cycles: the solar day, marked by the successive periods of light and darkness as the earth rotates on its axis; the lunar month, following the phases of the moon as it orbits the earth; and the solar year, defined by the changing seasons that accompany our planet's revolution around the sun.
Lịch của họ dựa vào ba chu kỳ tự nhiên: ngày mặt trời, được đánh dấu bằng các giai đoạn luân hồi của ánh sáng và bóng tối như trái đất quay quanh trục của nó; tháng giêng âm lịch, sau các tuần mặt trăng quay quanh trái đất; và năm dương lịch, được xác định bởi các mùa thay đổi mà các hành tinh quay quanh mặt trời.

Before the invention of artificial light, the moon had greater social impact.
Trước khi phát minh ra ánh sáng nhân tạo, mặt trăng có tác động
xã hội lớn hơn.

And, for those living near the equator in particular, its waxing and waning was more conspicuous than the passing of the seasons.
Và, đặc biệt đối với những người sống gần đường xích đạo, hình dạng tròn và khuyết của mặt trăng nhận thấy rõ hơn qua các mùa.

Hence, the calendars that were developed at the lower latitudes were influenced more by the lunar cycle than by the solar year.
Do đó, lịch được xây dựng ở những nơi vĩ độ thấp bị ảnh hưởng nhiều bởi chu kỳ mặt trăng quay quanh trái đất hơn là chu kì trái đất quay quanh mặt trời.

In more northern climes, however, where seasonal agriculture was practised, the solar year became more crucial.
Tuy nhiên, nhiều hơn ở những vùng phía bắc, nơi nông nghiệp theo thời vụ được áp dụng, năm dương lịch trở nên quan trọng hơn.

As the Roman Empire expanded northward, it organised its activity chart for the most part around the solar year.
Khi đế chế La Mã mở rộng về phía bắc, nó đã thiết lập biểu đồ hoạt động đối với hầu hết các mùa quanh năm dương lịch.

Centuries before the Roman Empire, the Egyptians had formulated a municipal calendar having 12 months of 30 days, with five days added to approximate the solar year.
Nhiều thế kỷ trước đế chế La Mã, người Ai Cập đã xây dựng một lịch riêng gồm 12 tháng có 30 ngày, cộng thêm năm ngày để xấp xỉ năm dương lịch.

Each period of ten days was marked by the appearance of special groups of stars called decans.
Mỗi khoảng thời gian mười ngày được đánh dấu bằng sự xuất hiện của các nhóm sao đặc biệt được gọi là decans.

At the rise of the star Sirius just before sunrise, which occurred around the all-important annual flooding of the Nile, 12 decans could be seen spanning the heavens.
Thời điểm xuất hiện sao Thiên lang ngay trước khi mặt trời mọc, đã xảy ra lũ lụt lớn khắp sông Nile hàng năm, 12 decans có thể được nhìn thấy trải dài trên trời.

The cosmic significance the Egyptians placed in the 12 decans led them to develop a system in which each interval of darkness (and later, each interval of daylight) was divided into a dozen equal parts.
Ý nghĩa vũ trụ mà người Ai Cập để trong12 decans đưa họ phát triển thành một sự phân loại trong đó cứ mỗi khoảng thời gian tối (và sau đó, mỗi khoảng thời gian ánh sáng ban ngày) được chia thành nhiều phần bằng nhau.

These periods became known as temporal hours because their duration varied according to the changing length of days and nights with the passing of the seasons.
Những khoảng thời gian này được gọi là giờ biểu thị bởi vì thời gian của họ thay đổi tùy theo sự thay đổi độ dài của ngày và đêm qua các mùa.

Summer hours were long, winter ones short; only at the spring and autumn equinoxes were the hours of daylight and darkness equal.
Giờ mùa hè dài, mùa đông ngắn; chỉ vào thời điểm xuân phân và thu phân thì những giờ sáng và tối mới bằng nhau.

Temporal hours, which were first adopted by the Greeks and then the Romans, who disseminated them through Europe, remained in use for more than 2,500 years.
Khái niệm giờ biểu thị, lần đầu tiên được chấp nhận bởi những người Hy Lạp và sau đó người La Mã, họ đã mang nó đến châu Âu, duy trì sử dụng trong hơn 2,500 năm.

In order to track temporal hours during the day, inventors created sundials, which indicate time by the length or direction of the sun's shadow.
Để theo dõi giờ trong ngày, các nhà phát minh đã tạo ra những chiếc đồng hồ mặt trời, biểu thị thời gian bằng chiều dài hoặc hướng bóng của mặt trời.

The sundial's counterpart, the water clock, was designed to measure temporal hours at night.
Bản sao đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước, được thiết kế để đo thời gian giờ vào ban đêm.

One of the first water clocks was a basin with a small hole near the bottom through which the water dripped out.
Một trong những đồng hồ nước đầu tiên là một bồn nước với một lỗ nhỏ gần đáy nơi nước chảy ra.

The falling water level denoted the passing hour as it dipped below hour lines inscribed on the inner surface.
Mực nước rơi xuống biểu thị giờ trôi qua bằng lượng nước chảy xuống theo vạch ghi giờ trên bề mặt bồn.

Although these devices performed satisfactorily around the Mediterranean, they could not always be depended on in the cloudy and often freezing weather of northern Europe.
Mặc dù các thiết bị này hoạt động tốt ở vùng Địa Trung Hải, nhưng chúng không phải lúc nào cũng thực hiện được, bị phụ thuộc vào thời tiết có nhiều mây và thường đóng băng ở Bắc Âu.

The advent of the mechanical clock meant that although it could be adjusted to maintain temporal hours, it was naturally suited to keeping equal ones.
Sự ra đời của đồng hồ cơ có nghĩa là mặc dù nó có thể được điều chỉnh để duy trì giờ biểu thị, sao cho được phù hợp tự nhiên nhằm duy trì các khoảng thời gian bằng nhau.

With these, however, arose the question of when to begin counting, and so, in the early 14th century, a number of systems evolved.
Tuy nhiên, với đồng hồ cơ, nảy sinh vấn đề khi nào bắt đầu đếm, và như vậy, vào đầu thế kỷ 14, một số hệ thống được phát triển.

The schemes that divided the day into 24 equal parts varied according to the start of the count: Italian hours began at sunset, Babylonian hours at sunrise, astronomical hours at midday and 'great clock' hours, used for some large public clocks in Germany, at midnight.
Các sơ đồ phân chia ngày thành 24 phần bằng nhau theo thời điểm bắt đầu đếm: Giờ Ý bắt đầu vào lúc hoàng hôn, giờ Babylon vào lúc mặt trời mọc, những giờ thiên văn vào giữa ngày và những giờ đồng hồ lớn, được sử dụng cho một số đồng hồ công cộng lớn ở Đức, vào nửa đêm.

Eventually these were superseded by 'small clock', or French, hours, which split the day into two 12-hour periods commencing at midnight.
Cuối cùng chúng được thay thế bởi 'đồng hồ nhỏ', hay là người Pháp, các giờ chia ngày ra làm hai khoảng thời gian 12 giờ bắt đầu từ nửa đêm.

The earliest recorded weight-driven mechanical clock was built in 1283 in Bedfordshire in England.
Đồng hồ cơ học sớm nhất điều khiển theo trọng lượng được xây dựng năm 1283 tại Bedfordshire, Anh.

The revolutionary aspect of this new timekeeper was neither the descending weight that provided its motive force nor the gear wheels (which had been around for at least 1,300 years) that transferred the power; It was the part called the escapement.
Khía cạnh mang tính cách mạng của đồng hồ mới này là không giảm trọng lượng, mà cũng không cung cấp lực chuyển đông những bánh răng (đã có ít nhất 1,300 năm) mà chuyển thành năng lượng; nó là bộ gồm một số phần của đồng hồ được gọi là bộ thoát.

In the early 1400s came the invention of the coiled spring or fusee which maintained constant force to the gear wheels of the timekeeper despite the changing tension of its mainspring.
Vào đầu những năm 1400, phát minh ra lò xo xoắn hoặc bánh côn duy trì lực liên tục cho bánh răng của đồng hồ không kể sức kéo thay đổi của lò xo chính.

By the 16th century, a pendulum clock had been devised, but the pendulum swung in a large arc and thus was not very efficient.
Vào thế kỷ 16, đồng hồ quả lắc được sáng chế ra, nhưng con lắc quay trong một vòng cung lớn và do đó không hiệu quả lắm.

To address this, a variation on the original escapement was invented in 1670, in England.
Để giải quyết vấn đề này, một biến thể của bộ thoát đầu tiên được phát minh vào năm 1670 tại Anh.

It was called the anchor escapement, which was a lever-based device shaped like a ship's anchor.
Nó được gọi là neo bộ thoát, đó là một thiết bị đòn bẩy dựa trên hình dạng như mỏ neo của tàu.

The motion of a pendulum rocks this device so that it catches and then releases each tooth of the escape wheel, in turn allowing it to turn a precise amount.
Sự chuyển động của một con lắc làm đu đưa thiết bị này vì thế nó bắt và nhả mỗi răng của bánh xe, lần lượt cho phép nó quay một lượng chính xác.

Unlike the original form used in early pendulum clocks, the anchor escapement permitted the pendulum to travel in a very small arc.
Không giống như các mẫu đầu tiên được sử dụng trong quả lắc, bộ thoát neo cho phép con lắc đu đưa trong một vòng cung rất nhỏ.

Moreover, this invention allowed the use of a long pendulum which could beat once a second and thus led to the development of a new floor - standing case design, which became known as the grandfather clock.
Hơn nữa, sáng chế này cho phép sử dụng một con lắc dài có thể đánh một lần một giây và do đó dẫn đến sự phát triển của một thiết kế mới nền móng, được biết đến như là đồng hồ ông nội.

Today, highly accurate timekeeping instruments set the beat for most electronic devices.
Ngày nay, những thiết bị đo lường thời gian với độ chính xác cao hình thành đánh bại hầu hết các thiết bị điện tử.

Nearly all computers contain a quartz-crystal clock to regulate their operation.
Gần như tất cả các máy tính đều có đồng hồ thạch anh để điều chỉnh sự vận hành của chúng.

Moreover, not only do time signals beamed down from Global Positioning System satellites calibrate the functions of precision navigation equipment, they do so as well for mobile phones, instant stock-trading systems and nationwide power-distribution grids.
Hơn nữa, những tín hiệu thời gian không chỉ được truyền từ các vệ tinh Hệ thống Định vị Toàn cầu hiệu chỉnh các chức năng của thiết bị định vị chính xác, nó làm như vậy cho điện thoại di động, hệ thống giao dịch chứng khoán tức thời và lưới điện phân phối toàn quốc.

So integral have these time-based technologies become to day-to-day existence that our dependency on them is recognised only when they fail to work.
Vì vậy, toàn bộ những công nghệ dựa trên thời gian này trở thành sự sống ngày qua ngày mà sự phụ thuộc của chúng ta vào chúng chỉ được nhận ra khi chúng không làm việc.

Dịch bởi Thơ Đỗ








Bài thi ielts http://mini-ielts.com/listening

Bài luận của học sinh Việt Nam lọt top 10 bài luận xuất sắc nhất thế giới 2018

Bài luận "Làm thế nào để cứu đại dương" của Phùng Thế Đạt đã vượt qua gần 1,200 bài dự thi từ 72 trường học trên toàn thế giới để lọt top 10 xuất sắc nhất.

Phùng Đình Đạt (học sinh trường phổ thông liên cấp Olympia, Hà Nội) vừa có một bài luận lọt top 10 bài luận hay nhất thế giới trong cuộc thi viết luận và tranh biện quốc tế (TSL 2018 International Schools Essay Competition and Debate) do Trust for Sustainable Living và Liên Hợp Quốc phát động và được tổ chức thường niên tại Anh Quốc.

Koreans Flock to Learn Vietnamese Dân Hàn đổ xô học tiếng Việt

Nguồn: http://english.chosun.com/site/data/html_dir/2018/04/19/2018041901494.html?Dep0=twitter
© This is copyrighted material owned by Digital Chosun Inc. No part of it may be reproduced or transmitted in any form or by any means without prior written permission.
Đây là tư liệu có bản quyền của Digital Chosun INC. Không phần nào được phép tái sử dụng hay truyền tải ở bất kỳ dạng nào hay bằng bất kỳ phương tiện nào nếu không có trước giấy phép bằng văn bản.

A sudden frenzy for learning Vietnamese is sweeping the country, with more and more office workers studying the language of the fast-growing economy.
Một trào lưu hăng hái học tiếng Việt đang quét qua Hàn Quốc, ngày càng nhiều nhân viên văn phòng học ngôn ngữ của nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

As many as eight private language institutes in a busy area near Gangnam Subway Station in southern Seoul have opened Vietnamese language classes.
Khoảng 8 trung tâm ngôn ngữ tư nhân tại một khu vực nhộn nhịp gần trạm đường điện ngầm Gangnam phía Nam Seoul đã mở các lớp học tiếng Việt.

One language-school staffer said, "We increased the number of classes from one to 11 only a month after we opened the Vietnamese course. We've also increased teachers from two to five."
Một nhân viên trong trường ngôn ngữ nói: "Chúng tôi đã tăng số lượng các lớp từ 1 lên 11 chỉ trong vòng 1 tháng sau khi mở khóa học tiếng Việt. Chúng tôi cũng tăng số giáo viên từ 2 lên 5 người."

Vietnam has become a land of opportunity since China's unofficial boycott of Korean goods and services last year. Exports to Vietnam increased a whopping 46.3 percent in 2017 from the previous year.
Việt Nam đã trở thành miền đất đầy cơ hội từ khi Trung Quốc ngầm tẩy chay hàng hóa và dịch vụ của Hàn Quốc. Xuất khẩu đến Việt Nam tăng mạnh 46.3% vào 2017 so với năm trước đó.

"Most students are learning Vietnamese to do business there," another language-school staffer said, and the majority of students are in their 30s and 40s.
"Hầu hết học viên học tiếng Việt để làm ăn ở đó", một nhân viên khác ở trường ngôn ngữ nói, và phần lớp học viên ở độ tuổi 30 và 40.

A 41-year-old office worker said, "I'm taking advantage of my lunch break to learn Vietnamese, which is more popular than Chinese these days."
Một nhân viên văn phòng 41 tuổi nói: "Tôi tận dụng thời gian nghỉ trưa để học tiếng Việt, tiếng Việt giờ phổ biến hơn cả tiếng Trung".

Office workers learn Vietnamese at a language school in Gangnam, Seoul last month.

The Korean Wave in Vietnam is also contributing to the high popularity of Vietnamese here. A staffer of an institute said, "The Vietnamese people like Korean culture and want to know more about Korea," especially after Park Hang-seo, the Korean head coach of the Vietnam national soccer team, led the squad to the final of the Asian Football Confederation Championship in January.
Làn sóng Hàn Quốc ở Việt Nam cũng góp phần vào sự phổ biến của tiếng Việt tại đây. Một nhân viên trường ngôn ngữ nói: "Người Việt thích văn hóa Hàn và muốn biết nhiều hơn về Hàn Quốc." đặc biệt sau khi Park Hang-seo, huấn luyện viên trường của đội tuyển bóng đá quốc gia, dẫn dắt đội bóng đến chung kết cúp bóng đá châu Á vào tháng Giêng.

Some 5,500 Korean businesses had made inroads into the Vietnamese market as of late last year. Park Jong-woon (54), who runs an engineering company in Seoul, opened an office in Vietnam in February and has been getting private Vietnamese lessons from a Vietnamese graduate student.
"Vietnam is suitable for business because there are fewer fears about tech leak-out than in China and it's politically stable."
Khoảng 5500 doanh nghiệp Hàn tham gia vào thị trường Việt Nam tính đến cuối năm ngoái. Park Jong-woon (54) điều hành một công ty kỹ thuật ở Seoul đã mở một văn phòng ở Việt Nam vào tháng 2 và đã học tiếng Việt từ một sinh viên đã tốt nghiệp người Việt. "Việt Nam phù hợp với kinh doanh vì có ít mối lo ngại bị rò rỉ công nghệ hơn so với ởTrung Quốc và Việt Nam ổn định về mặt chính trị."

Some companies run their own Vietnamese language classes. Food manufacturer CJ Cheiljedang gives its employees a beginner-level Vietnamese course two to three times a week as Korean foods get increasingly popular in Vietnam.
Một số công ty triển khai lớp học tiếng Việt của riêng mình. Công ty sản xuất thức ăn CJ Cheijiedang cho nhân viên học một khóa tiếng Việt sơ cấp 2 đến 3 lần mỗi tuần khi thức ăn Hàn trở lên phổ biến hơn ở Việt Nam.

A growing number of people are also preparing to take Vietnamese proficiency certificates. About 800 Koreans applied for the oral proficiency interview in 2017, up about 15 percent from a year earlier. More than 80 percent of applicants are office workers in their 30s and 40s, unlike other foreign language tests, where most applicants are in their 20s. 
Thêm nhiều người đang ôn luyện để thi chứng chỉ ngôn ngữ tiếng Việt. Khoảng 800 người đã đăng ký kỳ thi nói năm 2017, tăng khoảng 15% so với năm trước. Hơn 80% người đăng ký là nhân viên văn phòng ở độ tuổi 30 đến 40, không giống như những bài thi ngoại ngữ khác, khi mà hầu hết số người đăng ký tầm tuổi đôi mươi.



我有一个哑爸爸 Tôi có một ông bố câm


我有一个哑爸爸

Tôi có một ông bố câm


     我的爸爸是个哑巴,我常为此感到自卑(bēi),感到在众人面前抬不起头。从记事起,我就隐隐约约感到一种同情的目光,这种目光无论我走到哪儿,它始终伴随着我,并夹着几声悄悄(qiāo)的议论。“这孩子的爸爸是一个哑(Yǎ)巴。”说话的人摇头叹息。
Bố tôi là một người câm, tôi thường vì chuyện này mà cảm thấy tự ti, càm thấy trước mặt mọi người không ngẩng đầu lên được. Từ khi tôi nhớ được mọi chuyện, tôi đều mơ hồ cảm thấy một ánh mắt thương hại, cái ánh mắt này cho dù tôi đi đến đâu cũng đều mãi đeo bám tôi, và còn có những xì xào bàn tán. "Bố cái thằng bé này là người câm." những người bàn tán lắc đầu thở dài.

  每次回家看到爸爸.我就把一肚子委屈(Wěiqu)发泄出来,摔桌子、扔椅子。爸爸只是无言地望着我,然后默默地收拾我的“杰(Jié)作”。每每这时,我真想哭,真想大哭。每次我走路,专捡没人的地方走,到校后总是沉默不语。别的同学自豪地谈起自己的爸爸时,我总是默默地站在一边,悲伤地承受着那份不公平的“悲伤”。因此,凡是和爸爸一起的时候,我总是和他离一段距离,生怕别人知道他是我爸爸。爸爸也似乎感觉到这一点,也尽量避免和我在一起。
Mỗi khi về đến nhà, tôi đều đem cả bụng bực dọc trút ra ngoài, hất bàn quăng ghế. Bố chỉ câm lặng nhìn tôi, sau đó lặng lẽ dọn dẹp lại hậu quả. Mỗi lần như vậy, tôi lại muốn khóc quá, muốn khóc thật lớn. Mỗi lần tôi đi trên đường, đều rẽ vào đường không người mà đi, đến trường rồi thì luôn im lặng không nói. Khi những bạn học khác tự hào khoe bố, tôi đều lặng lẽ đứng một bên, đau đớn chịu đựng nỗi đau bất công ấy. Vậy là mỗi khi đi cùng bố, tôi đều đi cách ông một đoạn, sợ người ta biết ông ấy là bố mình. Bố cũng dường như cảm thấy điều này, cũng cố hết sức tránh đi cùng tôi.

Không có văn bản thay thế tá»± động nào.  有一次,学校开家长会,别的同学都兴高采烈,而我却闷闷(mèn)不乐。回家跟妈妈一说,爸爸的脸上却显出一脸喜悦(Yuè)。妈妈说:“就让你爸爸去吧!”爸爸的眼神中含着企盼(Qǐpàn),我却狠(Hěn)狠地把书包摔在桌子上,一头扎进自己的房间,委屈地哭了起来。这次家长会最后还是妈妈去了。
Có một lần, trường học họp phụ huynh, những bạn học khác đều vui vẻ phấn khởi mà tôi lại buồn rười rượi. Về đến nhà, vừa nói với mẹ, khuôn mặt bố đã hiện ra niềm vui. Mẹ nói: "Để cho bố con đi đi!". Trong ánh mắt bố chất chứa niềm hy vọng, tôi điên cuồng quăng cặp sách lên bàn, một mạch chúi đầu vào phòng, ấm ức mà khóc. Lần họp phụ huynh ấy vẫn là mẹ đi.
  晚上回到家里。只见桌子上放着一张纸条,上面写着:,都是爸爸不好,爸爸给你丢脸了,爸爸对不起你,可我从内心深处为有你这样的儿子感到骄傲。无论你将来受到什么挫折(Cuòzhé),爸爸在心里为你分担一切。如果你取得成功,爸爸在心里为你祝福”看着看着;泪水模糊了我的眼睛。泪眼朦胧(Ménglóng)中,我似乎看到每次我拿回奖状( jiǎngzhuàng)时,爸爸总是咧开( liě kāi)大嘴笑得合不拢( lǒng)口的情景。那忙上忙下粘贴奖状的身影仿佛(fǎngfú )又在我眼前晃动(huàngdòng)起来。对了,还有那次发高烧,是爸爸抱(bào)起我就往医院跑。我终于憋( biē)不住了,大喊一声:“爸爸!”同时,泪水又像块堤( kuài dī )的洪水奔涌( bēnyǒng)而下。
Chiều tối về đến nhà, chỉ thấy trên bàn có mảnh giấy, trên đó viết: "Đều là bố chẳng ra gì, bó làm mất mặt con rồi, bố xin lỗi con, nhưng bố từ trong sâu thẳm tim mình cảm thấy tự hào vì có con. Ngày sau cho dù gặp phải điều chán nản gì, bố trong lòng đều chi sẻ cùng con hết. Nếu như con gặt hái thành công, trong lòng bố sẽ chúc mừng con", cứ đọc lại đọc, lệ đã nhòa mắt. Trong màn nước mắt mông lung, tôi như thấy được những lần tôi mang giấy khen về, bố đều mở miệng cười lớn không khép được miệng. Hình ảnh tất bật dán tờ giấy khen ấy dường như phảng phất trước mắt tôi. Đúng rồi, còn có lần tôi phát sốt cao, là bố ôm tôi chạy đến bệnh viện. Tôi cuối cùng không ngăn được nữa, kêu to một tiếng" "Bố ơi!", lúc ấy nước mắt như lũ lụt tràn đê, chảy xuống.

  不知何时,爸爸已局促不安地站在门口,我再也控制不住自己的感情,一头扎进爸爸的怀里。
 我在心中念叨着:“爸,原谅儿子吧,都是儿子不好,下次开家 长会,我一定要让你去!” 爸爸也好像看出了我的心思,又咧(Liě )开大嘴笑了。Trong lòng tôi thầm nói: "Bố ơi, tha lỗi cho con nhé, đều là con không tốt, lần sau họp phụ huynh, con nhất định sẽ để bố đi!" Bố dường như cũng nhìn thấy ý nghĩ của tôi, liền mở miệng cười lớn.

Bài đăng phổ biến